Loading...
Hotline:
091 335 6679
Đặt hỏi:
 024 2211 8183

Về Hương Sơn mùa không hội

Từ Hà Nội vào thành phố Hà Ðông, xuôi thị trấn Vân Ðình, qua gần 20km nữa, đoàn chúng tôi về tới Bến Ðục, nằm bên bờ sông Ðáy. Ðây là cửa ngõ của khu danh thắng Hương Sơn.

Từ Bến Ðục, chúng tôi lên thuyền xuôi dòng Yến Vĩ (đuôi con chim én), thuyền đưa chúng tôi lướt suối, bên những ngọn núi đá nên thơ như núi Voi, núi Rồng... cùng với nhịp cầu ở phía xa gợi lên khung cảnh non Tiên nước Phật. Qua đền Trình, chúng tôi bái vọng "trình diện" với thần linh trước khi đặt chân lên cõi Phật. Được biết, đền nằm dưới chân một quả núi được đặt tên là Quan Lớn, thờ một bộ tướng của vua Hùng.
 
Để tham quan các chùa ở Hương Sơn, người hành hương thường đi theo các tuyến đường khác nhau. Nay đang tháng 7, thuyền đò tập kết tản mạn, bèo cái kết mảng nơi bến đậu thật thê lương.

Xuôi dòng Yến Vĩ, cảnh đẹp như trong thơ làm lắng lòng phiền não. Trên dòng suối Yến có cây cầu rất ấn tượng tên là cầu Hội vắt ngang. Từ chân cầu đi vào bên trái có thể đi vào ngôi chùa Thanh Sơn trong một động núi.
 
Sau chừng 1 giờ du ngoạn trên nước biếc non xanh, thuyền dừng ở Bến Trò, chúng tôi bước lên khu vực chùa Thiên Trù. Đường đi lối lại đang hoàn thiện, lát đá tảng, bao lơn thật hoành tráng.

Được biết, ngày xưa chùa được xây khuất trong bốn vách núi, có đến vài chục gian, nhưng đã bị tàn phá trong chiến tranh. Nam Thiên môn được xây dựng dưới triều Vua Gia long (năm 1809) cũng bị phá hủy. Năm 1986, chùa Thiên Trù đã phục dựng lại gác chuông và đến năm 1989 thì xây xong nhà Tam bảo hai tầng theo kiểu chữ "Ðinh". Ðầu năm 1994, chùa đã xây dựng lại Nam thiên môn (cửa trời Nam) theo nguyên mẫu xưa.
 
Đời vua Lê Thánh Tông (1460-1497) đã có am thờ Phật dựng trên mảnh đất chùa Thiên Trù. Theo sách "Hương Sơn Thiên Trù thiên phú" thì chùa Hương được xây dựng từ đời Lê Huy Tông, niên hiệu Chính Hòa, (1680-1705). Bia tại chùa Thiên Trù có ghi rằng việc xây dựng nền đất, bậc đá và tôn tạo bảo điện của chùa được thực hiện vào năm 1686.
 
Các ngôi chùa chính được xây dựng với quy mô lớn vào khoảng cuối thế kỷ 17. Cho đến đầu thế kỷ 20, trong khu vực này đã có hơn 100 ngôi chùa.
 
Từ Bến Trò chúng tôi leo bộ lên chùa Thiên Trù. Từ bến vào chùa có một nhà bia, trong có tấm bia "Thiên Trù tự bi ký" dựng năm Chính Hòa thứ 7, ghi lại những hoạt động tu sửa chùa Thiên Trù và chùa Hương Tích của nhà sư Viên Quang.
 
Qua Tam quan, thấy sừng sững toà gác chuông đẹp kì vĩ, đặc sắc, là biểu tượng kiến trúc của chùa Hương, đã được cách điệu thành logo. Công trình này cũng chỉ mới được kiến tạo vào năm 86 của thế kỷ trước, nhưng đã hội tụ, kết tinh được tinh thần thăng hoa bao thế kỷ của Hương Sơn.
 
Hiện nay, nhà chùa đang cho tiếp tục phục dựng và kiến tạo các công trình gác tháp đồ sộ uy nghi ở nơi sân chùa, với lối quy hoạch đặc trưng của chùa núi, “bình thiên bất bình địa” như trong kinh Pháp Bảo Đàn đã chỉ dạy.
 
Giữa sân chùa có một đỉnh đồng cao 3 m. Cạnh sân chùa có hồ bán nguyệt và vườn tháp. Trong vườn tháp có ngôi tháp Viên Công chứa hài cốt Thiền sư Viên Quang, người có công trùng tu chùa Hương sau nhiền năm hoang phế, được dựng từ thế kỷ 17. Tháp xây gạch trần màu đỏ, cao 4 tầng, tầng thứ 2 và 3 có mái cong với các đầu đao. Ở chùa Thiên Trù còn có quả chuông đúc năm cảnh Thịnh thứ 2 (1793) thời Tây Sơn.
 
Được biết, Thiên Trù đã bị phá hủy vào năm 1947. Năm 1989 thì xây xong nhà Tam bảo hai tầng theo kiểu chữ "Đinh". Ngôi chùa hiện tại được xây dựng nhỏ hơn ngôi chùa cũ. Bái đường và hậu cung chùa Thiên Trù mới được xây dựng lại gần đây. Giữa điện thờ Phật có tượng Quan Âm Nam Hải bằng đá, tạc theo mẫu tượng trong chùa Hương Tích nhưng được phóng to gấp 2,5 lần, cao đến 2,8 m.
 
Ngày 19/7 âm lịch, là ngày giỗ Tổ đời thứ VIII của sơn môn Hương Tích - cố Hoà thượng Thích Thanh Quyết - bậc “Tăng trung hào kiệt” của Phật giáo trời Nam. Chính vào thời cận đại Hương Sơn đã trở thành một căn cứ địa của nghĩa quân Tán Thuật (Bãi Sậy) nổi tiếng mà người trong vùng thường gọi là nghĩa quân Tuyết Sơn.
 
Người ta còn biết đến tên tuổi Hòa thượng Thích Thanh Quyết - động chủ Hương Sơn đã từng làm tham mưu cho nghĩa quân Yên Thế của Hoàng Hoa Thám. Kỷ niệm ngày Giỗ Tổ, chư tăng cúng Phật trên Đại điện, cúng Tổ trên tổ đường thật trang nghiêm.
 
Chúng tôi có vinh hạnh được Đại đức Viện chủ Thích Minh Hiền cho hầu chuyện trong 2 giờ. Ngài là Trưởng Pháp tử của Cố Hoà thượng Viên Thành. Hiện Ngài là kế đăng truyền thừa đời thứ XII ở Tổ đình Hương Tích. Hầu chuyện Ngài, bao điều muốn biết nay được biết, bao sự nghi vấn cần xác quyết nay được tường minh.
 
Sau thời Ngọ trai, chúng tôi lên núi. Gần chùa Thiên Trù là núi Tiên, có chùa Tiên trong hang. Trong chùa có 5 pho tượng bằng đá do những người thợ đá ở Kiện Khê (Hà Nam) tạc năm 1907 dựa theo truyền thuyết Bà Chúa Ba Diệu Thiện đã đắc đạo thành Quan Thế Âm Bồ Tát ở Hương Sơn.
 
Tượng Bà Chúa Ba ở giữa, phía trước là người chị cả Diệu Thanh cưỡi sư tử xanh (Văn Thù Bồ Tát) và tượng người chị thứ hai Diệu Âm cưỡi voi trắng (Phổ Hiền Bồ Tát). Phía sau là tượng vua cha và hoàng hậu - mẹ của Bà Chúa Ba.
 
Quãng giữa chùa Thiên Trù đến động Hương Tích là chùa Giải Oan. Ở đây có giếng nước trong vắt gọi là "Thiên nhiên thanh trì" hay còn gọi là giếng Long Tuyền. Trước chùa có suối chín nguồn gọi là suối Giải Oan. Gần chùa là động Tuyết Kinh và am Phật Tích, nơi có tảng đá tương truyền lưu dấu chân Quan Âm Bồ tát. Cách đó không bao xa, chúng tôi bước chân đến núi Chấn Song để thăm viếng đền cửa Võng thờ Mẫu Thượng Ngàn.
 
Ðích xa nhất của chuyến hành hương là Ðộng Hương Tích nằm sâu ở phía trong. Chúng tôi bước qua một cổng lớn được ghép bằng đá xanh ở phía trên, rồi theo những bậc đá rộng đi xuống động. Đường xuống hang chùa là một dốc gồm 120 bậc lát đá. Cửa động trông như hàm một con rồng khổng lồ, phía trong, trên vách đá có tạc năm chữ Hán "Nam thiên đệ nhất động". Tương truyền là bút tích của Tĩnh Ðô Vương Trịnh Sâm khắc vào năm 1770.
 
Vào trong động, vẻ đẹp lạ thường của những nhũ đá tưởng như những công trình điêu khắc tuyệt tác của thiên nhiên. Nhũ đá có khối to, khối nhỏ, có cái đẹp ở toàn khối, có cái đẹp ở dáng dấp tinh vi, có cái rủ từ trên trần xuống, có cái mọc từ dưới đất lên. Tất cả đều tùy theo hình dáng mà được đặt những cái tên rất trần thế, biểu hiện những mơ ước của con người.
 
Trước hết là Đụn Gạo đồ sộ, bước vào cửa động đã trông thấy. Gạo là cái quan trọng hàng đầu nên Đụn Gạo trong động nhà Phật cũng ở vào vị trí hàng đầu. Dưới chân Đụn Gạo có một hõm đá nhỏ xíu gọi là Cối Giã.
 
Gần Đụn Gạo là Núi Cô và Núi Cậu. Núi Cô nhỏ hơn Núi Cậu nhưng giống nhau ở chỗ có những hình em bé nằm nghiêng, nằm sấp hoặc đang bò lổm ngổm, đầu nhẵn thín. Núi Cậu ngang tầm với Sữa Mẹ quanh năm suốt tháng rỏ xuống không ngừng. Chúng tôi thấy từng nhóm người đang kiên nhẫn dùng những đồng tiền mới gấp thành bồ kề hứng uống từng giọt “sữa mẹ”.
 
Cùng một hàng dọc với Núi Cô, Núi Cậu và lui vào phía trong là Cây Bạc, Cây Vàng ngồn ngộn chất chứa những hình tròn như những đồng tiền vàng bạc lấp lánh. Vào trong góc động gần tận cùng sẽ thấy Chuồng Lợn, Ao Bèo, Nong Tằm, Né Kén... Toàn là những hình ảnh bằng nhũ đá. Trên trần động thạch nhũ còn nhô ra thành hình chín đầu rồng sinh động gọi là tòa Cửu Long.

Giá trị nhất về mặt nghệ thuật điêu khắc, không những trong chùa Hương mà kể cả trong toàn bộ hệ thống chùa chiền ở Hương Sơn là pho tượng Phật Quan Âm bằng đá xanh tạc vào thời Tây Sơn.
 
Pho tượng bằng đá, có dáng người thon thon, mặt trái xoan, nét thanh tú, đầu đội mũ Tỳ Lư nhưng lại có búi tóc và tóc mai, sau lưng có hai món tóc buông xuống. Tượng ngồi ở tư thế đặc biệt, tay phải cầm viên ngọc minh châu, chân trái duỗi, đặt trên một bông sen nở, chân phải co, dưới chân cũng có một bông sen. Theo bài ký khắc trên đá năm 1806 thì pho tượng này được tạc năm 1793.
Trong động Hương Tích còn có quả chuông đồng cao 1,24 m, đường kính đáy 0,63 m đúc năm Thịnh Đức thứ 3 (1655). Chùa Hương là nguồn gợi hứng cho nhiều tác phẩm thi văn Việt Nam, trong số đó có Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Nguyễn Nhược Pháp và Chu Mạnh Trinh.
 
Bài Thú Hương Sơn của Chu Mạnh Trinh có lẽ nổi tiếng nhất, gói ghém trọn cảnh Hương tích:
 
“Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay
Kìa non non, nước nước, mây mây
"Đệ nhất động" hỏi rằng đây có phải!
Nhác trông lên ai khéo họa hình
Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt
Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt
Gập ghềnh mấy lối uốn thang mây?”
 
Theo truyền thuyết, vùng núi có hang động này được tìm thấy cách đây hơn hai nghìn năm và đã được đặt tên Hương Sơn - lấy tên một ngọn núi ở phía Bắc Tuyết Sơn trong dãy Himalaya (Ấn Độ), nơi đức Phật đã ngồi tu khổ hạnh suốt 6 năm ròng rã.
 
Hương Sơn là một cảnh quan lịch sử còn vì ở chính nơi đây đã từng ghi dấu những bằng chứng của lịch sử dân tộc trong sự nghiệp giải phóng và bảo vệ Tổ quốc. Không kể đến những huyền tích về thời các Vua Hùng và những chiếc trống đồng tìm được ở Thượng Lâm (Mỹ Đức năm 1934) mang truyền thuyết là món quà của Đinh Tiên Hoàng tặng cho dân làng cùng với dấu tích của con đường mang tên Vua Đinh.
 
Qua các đời Lý - Trần - Lê con đường Thượng Đạo được hình thành cũng đã từng làm vang động cảnh đẹp Hương Sơn bởi những biến cố lịch sử của đạo quân Lê Lợi hay sau này của Nguyễn Huệ tiến công Đông Đô - Thăng Long để giải phóng đất nước khỏi ách ngoại bang.
 
Và Hương Sơn trong con mắt của con nhà võ, thực là đắc địa, là một căn cứ địa “tiến có thế đánh, thoái có thế giữ”. Chính vào thời cận đại Hương Sơn đã trở thành một căn cứ địa của nghĩa quân Tán Thuật (Bãi Sậy) nổi tiếng mà người trong vùng thường gọi là nghĩa quân Tuyết Sơn. Hòa thượng Thích Thanh Quyết- động chủ Hương Sơn đã từng làm tham mưu cho nghĩa quân Hoàng Hoa Thám. Cách đây không lâu, Hương Sơn đã là nơi đóng của Bộ Tư Lệnh liên khu III.
 
Cả một vùng thiên nhiên hùng vĩ, tuyệt đẹp của Hương Sơn kể từ khi được Lê Thánh Tông vị vua sáng của triều Lê phát hiện đến nay đã trải qua trên nửa thiên niên kỷ. Thời gian ấy, bên cạnh những huyền thoại, những truyền thuyết của một thời lịch sử xa xưa cũng đã đủ để tạo dựng nên một bề dày truyền thống với những giá trị lịch sử đáng trân trọng.
 
Giã từ cảnh đẹp Hương Sơn, du khách có thể mang về làm kỷ niệm một cây gậy trúc đã chống trên đường hành hương, vài mảnh gốc mơ già để pha nước uống, những quả mơ dày cùi nhỏ hạt và mấy mớ rau sắng nấu canh hương vị thơm ngon. Nhưng cái quý nhất mà người đi Chùa Hương có được là một tâm hồn đã tẩy sạch bụi trần, lâng lâng một niềm vui thoát tục với những ấn tượng không phai mờ về một Bồng Lai – Cõi Phật ngay trên trần gian.
 
Huệ Minh (phattuvietnam.net)